Tìm kiếm

Phát triển và bảo tồn làng nghề Thủ đô: Kho báu văn hóa đang được “đánh thức” ra sao?

14 Tháng mười một, 2025

Khi đổi mới công nghệ mở đường cho phát triển xanh ở làng nghề
Cách Bát Tràng không xa, làng gốm Kim Lan từng lặng lẽ bên bờ sông Hồng suốt nhiều thế kỷ. Nhưng ít ai biết rằng, những năm gần đây, nơi đây đã thực sự “thức dậy” bằng công nghệ sạch.Trong xưởng gốm ngập ánh sáng, nghệ nhân Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội làng nghề gốm Kim Lan, tay vẫn thoăn thoắt nắn đất, kể lại: “Cách đây hơn chục năm, Đại sứ quán Đan Mạch hỗ trợ 1 triệu USD để giúp làng chuyển đổi lò đốt từ than, củi sang lò gas. Trước kia, mỗi lò than thải ra cả tấn khói bụi và chất rắn, nhưng giờ khí thải giảm tới 90%, cảnh quan xanh hơn hẳn”.

Làng gốm Kim Lan ngày nay cho ra đời nhiều chủng loại sản phẩm chất lượng cao, không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà đã vươn ra thị trường lớn trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc…


Không chỉ giảm ô nhiễm, lò gas còn giúp kiểm soát nhiệt độ, giảm tỷ lệ hỏng men. “Trước kia 10 sản phẩm thì có 2 hỏng, giờ chỉ còn 1. Men đều hơn, màu chuẩn hơn, khách hàng nước ngoài cũng tin tưởng hơn,” ông Bình nói. Đường làng giờ không còn mù khói. Những hàng cau, hàng cây xung quanh làng đã xanh trở lại. Người Kim Lan bảo, giữ nghề là một chuyện, giữ được môi trường để mà sống cùng nghề mới là điều đáng quý.
Nếu Kim Lan đi lên bằng công nghệ sạch, thì Vạn Phúc (Hà Đông) – làng lụa nghìn năm tuổi lại tìm thấy sức sống mới từ du lịch và đổi mới sản xuất. Trên “con đường lụa” rợp sắc màu, nghệ nhân Ngọc Lan giới thiệu từng khung cửi, từng dải tơ lấp lánh: “Trước đây, nhuộm bằng than rất ô nhiễm. Giờ chúng tôi chuyển sang dùng củi, điện, thậm chí năng lượng mặt trời. Không chỉ sạch hơn mà màu lụa còn đẹp và bền hơn.”
Những năm gần đây, để thích ứng với yêu cầu thị trường và xu thế phát triển bền vững, làng nghề đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể. Nhiều hộ sản xuất mạnh dạn thay thế khung cửi thủ công bằng máy dệt bán tự động, giúp tăng năng suất, giảm nhân công. Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ nhuộm bằng thuốc nhuộm thân thiện môi trường, tiết kiệm nước và giảm hóa chất, đã góp phần hạn chế đáng kể ô nhiễm nguồn nước.
Không chỉ vậy, Vạn Phúc còn phát triển mạnh mô hình du lịch trải nghiệm làng nghề. “Con đường lụa” với không gian check-in, mua sắm và trải nghiệm dệt tơ, nhuộm lụa đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Nhờ đó, làng nghề vừa gìn giữ tinh hoa truyền thống, vừa mở rộng dịch vụ, hình thành chuỗi giá trị kinh tế – du lịch xanh.

Tham quan gian hàng trưng bày sản phẩm lụa được dệt tại làng Vạn Phúc (Hà Đông)


Chia sẻ với Dân Việt, nghệ nhân Ngọc Lan – Làng nghề dệt Lụa Van Phúc, Hà Đông thông tin: “Chúng tôi tạo ra những không gian đẹp, điểm check-in hấp dẫn để khách du lịch vừa có thể tham quan, học hỏi, mua sắm, vừa cảm nhận được nét đặc trưng của làng nghề. Hiện nay, phố lụa Vạn Phúc đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng, song song với việc chỉnh trang hạ tầng, cải tạo cảnh quan để thu hút du khách nhiều hơn. Về sản xuất, trước đây chúng tôi dùng than để nhuộm, gây hại môi trường, nhưng nay đã chuyển sang dùng củi, điện và năng lượng mặt trời, giúp giảm đáng kể khí thải và ô nhiễm.
“Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã” – câu ca dao xưa vẫn nhắc đến tứ trụ tinh hoa của đất Thăng Long. Trong đó, Bát Tràng là biểu tượng của sự trường tồn, nơi gốm đã đi qua hàng trăm năm lịch sử, mang theo hồn đất kinh kỳ.
Bước vào xưởng gốm của nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, người ta bắt gặp những chiếc bình mang dáng vẻ hiện đại nhưng vẫn giữ men cổ truyền. Ông Tân chia sẻ: “Chúng tôi là lớp nghệ nhân kế thừa, chính vì vậy việc bảo tồn và phát triển nghề là trách nhiệm. Tôi chọn con đường “lấy truyền thống để nối với đương đại”. Nghĩa là giữ kỹ thuật nung men, giữ hồn đất, nhưng đổi mới phom dáng, hoa văn, cách kể chuyện bằng gốm.”
Những nghệ nhân trẻ hôm nay lớn lên trong môi trường ấy đều ý thức sâu sắc trách nhiệm kế thừa. Họ không chỉ bảo tồn kỹ thuật, mà còn tìm cách làm mới để nghề sống tiếp trong kỷ nguyên hiện đại. Với nhiều người, câu trả lời là kết hợp truyền thống với sáng tạo đương đại, đó là lấy tinh hoa cũ làm nền tảng, rồi khai thác ngôn ngữ hình thức, màu men và hoa văn phù hợp với thị hiếu thế kỷ 21.
Đó là lý do nhiều nghệ nhân Bát Tràng chọn đi theo một dòng gốm “đương đại”, vừa giữ kỹ thuật nung men vừa giữ hồn đất, nhưng thay đổi phom dáng, xử lý bề mặt, cách bố cục hoa văn để mỗi sản phẩm mang một câu chuyện riêng.
Mỗi chiếc bình, mỗi đĩa gốm vì thế không còn chỉ là vật vô tri mà là một tác phẩm có chủ đích, có ngôn ngữ nghệ thuật, được thiết kế để truyền tải cái đẹp tới người thưởng ngoạn và người sở hữu.
Làng nghề thành trụ cột trong chiến lược kinh tế – xã hội
Theo ông Nguyễn Đình Hoa, Phó Giám đốc Sở NN&MT Hà Nội, thành phố Hà Nội đang triển khai quy hoạch lại hệ thống làng nghề, chọn ra những mô hình tiêu biểu để phát triển thành “điểm đến du lịch làng nghề xanh”.
“Chúng tôi đang hướng tới việc gắn sản xuất nông nghiệp, làng nghề với du lịch sinh thái. Các xã đạt tiêu chí môi trường, có lợi thế cảnh quan và hạ tầng sẽ được ưu tiên đầu tư, trở thành “vùng sáng tạo” trong bản đồ du lịch Hà Nôội”, ông Hoa nhấn mạnh.
Sự vào cuộc của cơ quan quản lý được cộng đồng làng nghề hưởng ứng mạnh mẽ. Không ít làng nghề đã tự tìm hướng đổi mới, như Hạ Thái (sơn mài), Phú Vinh (mây tre đan), hay Định Công (chạm vàng bạc). Mỗi nơi một cách, nhưng đều hướng tới mục tiêu chung, đó là giữ nghề, sống được bằng nghề và sống xanh cùng nghề.
Không chỉ là nơi gìn giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống, Hà Nội còn được biết đến với hệ thống làng nghề đa dạng bậc nhất cả nước. Gốm sứ, sơn mài khảm trai, thêu ren, trạm bạc, mây tre đan, gỗ mỹ nghệ là những ngành tiêu biểu cho thủ công mỹ nghệ Hà Nội. Hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống với hàng nghìn nghệ nhân, thợ giỏi đã sáng tạo nên những sản phẩm nổi danh xa gần, độc đáo, tinh tế, có chất lượng và kỹ thuật tay nghề cao.
Không chỉ chinh phục thị trường trong nước, sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn vươn xa trên thị trường quốc tế, trở thành những đồ vật lưu niệm quý giá, vừa thể hiện sự tài hoa của người thợ, vừa mang đậm dấu ấn của đất nước, con người Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt, làng nghề Hà Nội không chỉ đứng trên nền tảng truyền thống. Sự phát triển bền vững đòi hỏi phải đổi mới từ mẫu mã, công nghệ sản xuất đến phương thức quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Thực tế cho thấy, nhiều làng nghề đã chủ động nắm bắt xu thế, kết hợp giữa kỹ nghệ truyền thống và sáng tạo hiện đại, tạo ra những sản phẩm vừa giữ được bản sắc, vừa đáp ứng thị hiếu đa dạng của thị trường.

Anh Nguyễn Văn Hoàn, từ Gia Bình, Bắc Ninh đến làng Hạ Thái để xem tranh sơn mài bày tỏ: “Nghe danh làng nghề từ lâu, nay tôi sang đây để mua một bức tranh về tặng quà đối tác. Tôi khá ưng ý các sản phẩm ở đây. Các sản phẩm được nghệ nhân làm rất tỉ mỉ”.


Bà Hà Thị Vinh – Chỉ tịch Hội thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội: “Trong bối cảnh kinh tế thay đổi, đây là một trong những thị trường vô cùng lớn, đặc biệt trong giai đoạn này khi lượng khách nước ngoài vào Việt Nam du lịch ngày càng đông. Chúng tôi đã nhiều lần đề cập trong các cuộc hội nghị, trong hiệp hội cũng như khi làm việc với thành phố và Sở Công Thương. Chúng ta cần phát triển mạnh mảng hàng quà tặng, hàng lưu niệm để có thể “đi bằng hai chân”. Hàng quà tặng và hàng lưu niệm sẽ góp phần mang hình ảnh đất nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng ra thế giới. Bởi vì, thường thì quà tặng, hàng lưu niệm luôn gắn liền với di sản của đất nước, của Thủ đô. Đây cũng là con đường để chúng ta chuyển tải di sản văn hóa của mình ra thế giới”.
“Để làm được điều này, hiện nay các làng nghề đang có xu hướng đi theo con đường đó. Chúng tôi cũng đề nghị Sở Công Thương cùng Hiệp hội phối hợp tổ chức các cuộc thi sản phẩm quà tặng, quà lưu niệm”, bà Vinh cho biết thêm.
Hà Nội hiện có gần 1350 làng nghề thủ công mỹ nghệ, từ gốm Bát Tràng, mây tre đan Phú Vinh, sơn mài Hạ Thái đến lụa Vạn Phúc,… Mỗi làng nghề đều gắn liền với một địa danh, một dấu ấn lịch sử để rồi trở thành những thương hiệu nổi tiếng, niềm tự hào không chỉ của Thủ đô mà còn của cả quốc gia.
Kim Ngọc